Cự Môn tại Thìn Tuất

Sao Thiên đồng là thế bình tọa ở cung Thìn, Tuất, là người không coi trọng tiền tài

Sao Thiên đồng là thế bình tọa ở cung Thìn, Tuất, là người không coi trọng tiền tài, thuận theo tự nhiên mà được tiền tài; phần lớn là sinh ra trong gia đình phú quý, ở xa quê thì nhiều thị phi, không nên chuyển nghề, chuyển chỗ ở. Nên làm công việc có tính chất dịch vụ, tính chất nghệ thuật hoặc tính chất nghiên cứu. Trong quá trình lập nghiệp thì trước khổ sau sướng, cuối cùng sẽ thành công.

Sao Cự môn tọa mệnh ở hai cung Thìn, Tuất, cung Thiên di có thế ngang bằng với sao Thiên đồng, cung Tài bạch có sao Thái dương (cung Tý lạc hãm, cung Ngọ thế vượng). Có số xuất ngoại, khả năng thích ứng cao, ra ngoài có quý nhân phù trợ, bên ngoài có tiền bạc, do đó mà nhân duyên tốt; thiên về tài lý, có thể thành danh vì tiền bạc, khi mệnh tọa cung Tuất, sao Thái dương ở cung Tài bạch là thế vượng, có tài vận; khi mệnh tọa cung Thìn, sao Thái dương lạc hãm, chi tiêu nhiều, tương đối lãng phí.

BỐ CỤC SAO

      Sao Thiên đồng ở hai cung Thìn, Tuất là thế bình độc tọa, cung đối diện là sao Cự môn ở thế hãm. Sao Cự môn là sao “tối” chủ về chuyện thị phi, ảnh hưởng của nó đến sao Thiên đồng không nhiều bằng khi đồng tọa với sao Cự môn tại cung Sửu, Mùi nhưng nếu không hội chiếu với cát tinh thì khó tránh khỏi chuyện thị phi.

Sao Cự môn ở hai cung Thìn, Tuất độc tọa lạc hãm, hơn nữa còn bị hạn chế bởi Thiên la, Địa võng của hai cung Thìn, Tuất, sẽ có cảm giác bất lực, vất vả vô cùng, khó có được thành công thực sự, song lại giàu tinh thần nghiên cứu, thích hợp với việc phát triển sự nghiệp văn chương, giáo dục. Nên tập trung nghiên cứu sách vở, không vội vàng những biểu hiện nhất thời, sau tuổi 30 mới bắt đầu bước vào viễn cảnh tươi đẹp.

      Chuyện thị phi do sao Cự môn gây ra không có nghĩa là người trong cuộc thích gây chuyện, thích trêu chọc người khác mà có khi là do môi trường tạo nên, cách bổ cứu tốt nhất là đem chuyện thị phi chuyển dịch sang việc dựa vào miệng lưỡi để kiếm tiền tức làm công việc giảng dạy, tin tức hoặc người phát ngôn của nhân dân.

VẬN MỆNH CƠ BẢN

     Sao Thiên đồng tọa ở cung Thìn, Tuất, cung Tài bạch có sao Thiên lương, cung Quan lộc có sao Thiên cơ và sao Thái âm là mệnh cách Cơ nguyệt đồng lương, là người giỏi lập kế hoạch, khả năng giải quyết công việc và phò tá tốt; có thể đảm nhiệm chức vụ quan trọng trong cơ quan nhà nước, giới truyền thanh, giới văn hóa và công việc kỹ thuật.

      Sao Thiên đồng bản thân vốn hợp với mệnh nữ nhưng hai cung Thìn, Tuất là Thiên la Địa võng, mà sao Thiên đồng lại là thế bình nên sẽ làm cho vẻ xinh đẹp ban đầu giảm đi, thích hợp cho mệnh nam.

Nếu Cự môn ở hai cung Thìn, Tuất lạc hãm, hơn nữa lại tọa mệnh cùng 4 sát tinh: Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, là mệnh cách Cự phùng tứ sát, nếu không có cát tinh tương cứu, phần đa là phạm tội bỏ trốn.

VẬN MỆNH CỦA CÁC NĂM SINH KHÁC NHAU

       Người sinh năm Ất: Sao Thiên cơ ở cung Quan lộc hóa lộc, sao Thiên lương ở cung Tài bạch hóa quyền, sao Thái âm ở cung Quan lộc hóa kỵ,hóa lộc, hóa quyền tại cung Mệnh, cung Tài bạch, nếu không có hung, sát, kỵ tinh xung phá là mệnh cách Quyền lộc tuần phùng, tài quan đều đẹp.

       Dựa vào trí tuệ kiếm tiền, sự nghiệp có tính biến động lớn, trong xử lý tiền tài thì thường “Dần ăn lương thực của Mão”, dễ vì thấu chi mà gây bội chi, nhưng sau khi hao tổn có thể lại kiếm được để cân bằng thu chi. Vất vả được của, trong sự nghiệp có thể nắm quyền, mọi việc đều gặp hung hóa cát, gặp nạn thành may.

     Trong sự nghiệp thì nhiều tiểu nhân ám hại hoặc phụ nữ cản trở, không giỏi quản lý tiền tài, thường có hiện tượng nghèo rớt mồng tơi, muộn mới thành tài, trước phá sau mới thành. Mệnh tọa ở cung Thìn, sao Kình dương đồng tọa, chủ về cơ thể dễ bị thương hại.

       Người sinh năm Bính: Sao Thiên đồng ở cung Mệnh hóa lộc, sao Thiên cơ ở cung Quan lộc hóa quyền, nếu không có hung, sát, kỵ tinh xung phá là mệnh cách Quyền lộc tuần phùng, tài quan đều đẹp.

      Vận khí tốt, ham muốn hưởng thụ, tăng thêm chuyện thị phi. Rất biết sử dụng trí tuệ trong sự nghiệp, tính linh động cao, có khả năng thay đổi công việc, tích cực chủ động trong công việc, ra ngoài sáng nghiệp mưu cầu chức vị đều tốt, biến động sẽ có thành công.

        Ngoài ra thì người sinh giờ Dần, Ngọ, Tuất năm Bính có mệnh tọa cung Thìn; người sinh giờ Tý, Thìn, Thân có mệnh tọa cung Tuất, ngoài sao Thiên đồng ở cung Mệnh hóa lộc và sao Thiên cơ ở cung Quan lộc hóa quyền thì gặp sao Văn xương ở cung Mệnh, cung Tài bạch hoặc cung Quan lộc hóa khoa là mệnh cách Tam kỳ gia hội, danh tiếng vang xa, tài quan đều đẹp, phú quý song toàn, có tài hoa về học thuật và văn nghệ.

       Người sinh giờ Tý, Ngọ năm Bính, hai sao Văn xương, Văn khúc lần lượt tọa ở cung Mệnh, cung Thiên di, là mệnh cách Văn xương cung mệnh, cử chỉ nho nhã, có lý trí, chăm chỉ học, có tài kinh bang tế thế, vinh hiển trong giới học thuật, văn nghệ. Mệnh nữ tọa ở cung Thìn, người sinh năm Bính có sao Đà la đồng tọa mệnh cơ thể thường béo tròn và mắt thường bị cận thị.

         Người sinh năm Đinh: Sao Thái âm ở cung Quan lộc hóa lộc, sao Thiên cơ hóa khoa, sao Thiên đồng ở cung Mệnh hóa quyền, sao Cự môn ở cung Thiên di hóa kỵ. Sao Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa đều xuất hiện ở cung vị Tam phương Tứ chính của cung Mệnh (Mệnh, Tài, Quan, Thiên) là mệnh cách Tam kỳ gia hội, có danh tiếng, tài quan đều đẹp, phú quý song toàn. Có duyên với người khác giới, mọi sự thuận lợi may mắn, mệnh nam có vợ hiền con ngoan, sự nghiệp tốt, mệnh nữ có thể làm chủ, nắm quyền.

        Có thể khơi gợi ý chí phấn đấu và nghị lực, làm ít hưởng nhiều, vui vẻ may mắn, nên làm công việc nghiên cứu mang trạng thái tĩnh nhưng khó tránh khỏi vất vả và bôn ba. Giỏi lập kết hoạch, có nhiều sáng kiến, tất cả những việc cần động não thì đều không gặp bất lợi, cả đời thuận lợi. Ở bên ngoài dễ gặp chuyện thị phi, thường bị gọi là “khác loại” nhưng có thể khơi gợi đặc tính giỏi ăn nói của sao Cự môn, khó tránh khỏi vất vả.

        Người sinh năm Mậu: Sao Thái âm ở cung Quan lộc hóa quyền và sao Thiên cơ ở cung Quan lộc hóa kỵ. Có tài hoa, có thể sáng nghiệp hoặc làm công việc lao tâm khổ tứ. Mệnh nam có thể có động lực từ bạn khác giới trong sự nghiệp. Thích động não và thay đổi nhưng luôn phán đoán sai, thường do lên kế hoạch thất bại mà thêm ưu phiền, luôn có tiến có lùi, theo đuổi con đường học cũng không tốt, sự nghiệp thường không ổn định khó lường trước, tình cảm cũng nhiều biến động.

       Người sinh năm Mậu, mệnh tọa cung Thìn, sao Đà la đồng tọa mệnh, cơ thể thường béo và mắt hay bị cận thị. Người sinh tháng 7 có mệnh tọa cung Thìn; người sinh tháng 1 có mệnh tọa cung Tuất, ngoài sao Thái âm của cung Quan lộc hóa quyền thì cung Mệnh còn có sao Hữu bật hóa khoa là mệnh cách Giáp đệ đăng khoa, có thể bứt phá lên dẫn đầu, nhưng gặp kỵ tinh xung phá (sao Thiên cơ hóa kỵ) thì dễ có tài nhưng không gặp thời.

       Người sinh năm Kỷ: Sao Thiên lương ở cung Tài bạch hóa khoa. Có thể đạt được tiền tài trong sạch, được người khác tặng hoặc giúp đỡ, hoặc giúp đỡ người khác về kinh tế, tham gia thi cử có thể thuận lợi đỗ bảng vàng. Nếu sao Văn khúc hóa kỵ không ở cung Mệnh hoặc ở cung vị tam hợp hội của cung Mệnh thì công việc cũng có thể có biểu hiện tốt.

      Người sinh năm Canh: Sao Thái âm ở cung Tài bạch hóa khoa, sao Thiên đồng ở cung Mệnh hóa kỵ. Giỏi quản lý tiền tài, làm về nghệ thuật hoặc công ty trung gian, có thể được “tài” và “danh”, công vụ viên phần lớn là thanh quý, bạn đời thích tiết kiệm tiền riêng. Lười biếng, tuy kiếm tiến cũng có phúc nhưng không biết hưởng, phần lớn vì lười biếng mà mất cơ hội tốt, nội tâm thường tự cảm thấy mâu thuẫn, quan hệ giao tiếp và các bộ phận cơ thể phần lớn là không cân đối.

      Người sinh năm Tân: Sao Cự môn ở cung Thiên di hóa lộc. Có tài ăn nói, phần lớn dùng miệng để kiếm tiền. Người sinh năm Tân có mệnh tọa ở cung Tuất, sao Kình dương đồng tọa mệnh thì cơ thể phần lớn có thương hại.

      Người sinh giờ Tý năm Tân có mệnh tọa cung Thìn, người sinh giờ Ngọ năm Tân có mệnh tọa cung Tuất, sao Văn khúc ở cung Mệnh hóa khoa lại hội chiếu với sao Hóa lộc của cung Thiên di, nếu không có hung, sát, kỵ tinh đồng cung hoặc xung phá là mệnh cách Khoa danh hội lộc, tài hoa nổi trội, xa gần đều biết tiếng, tài danh đều đẹp.

       Người sinh năm Nhâm: Sao Thiên lương ở cung Tài bạch hóa lộc. Thường được sự giúp đỡ của bề trên mà được tiền tài đồng thời có tiền tài bất ngờ nhưng tiền tài bất ngờ này lại làm cho người trong cuộc khó có thể chấp nhận hoặc không thể xử lý thoả đáng, thậm chí dẫn đến tranh chấp.

      Người sinh tháng 1 có mệnh tọa cung Thìn và người sinh tháng 7 có mệnh tọa cung Tuất, sao Tả phù ở cung Mệnh hóa khoa lại hội chiếu với sao Thiên lương ở cung Tài bạch hóa lộc thành Mệnh cách Khoa danh hội lộc.

       Người sinh năm Nhâm có mệnh tọa ở cung Tuất, sao Đà la đồng tọa mệnh phần lớn là cơ thể béo mập và mắt cận thị.

        Người sinh năm Quý: Sao Cự môn ở cung Thiên di hóa quyền, sao Thái âm của cung Quan lộc hóa khoa. Khẩu tài tốt, ra ngoài phần lớn là dùng miệng để lập nghiệp nhưng khó tránh khỏi tranh luận thị phi. Giỏi quản lý tiền tài, làm về nghệ thuật hoặc công ty trung gian có thể được tài và danh, công vụ viên phần lớn là thanh quý, bạn đời giỏi giữ tiền riêng.

VẬN MỆNH CỦA CÁC GIỜ SINH KHÁC NHAU

      Người sinh tháng 1,7 có hai sao Tả phù, Hữu bật, một sao tọa mệnh còn sao kia ở cung Thiên di đôi chiếu, là mệnh cách Tả Hữu thủ viên, có khả năng lập kê hoạch, quan hệ giao tiếp tốt, mọi việc đều gặp hung hóa cát. Nhưng sao Thiên đồng ở cung Mệnh là thế bình, sao Cự môn ở cung Thiên di là rơi vào thế hãm, trước thành công sau thất bại, trước vinh hiển sau suy bại.

      Người sinh giờ Tý, Ngọ, hai sao Văn xương, Văn khúc lần lượt ở cung Mệnh và cung Thiên di đối chiếu, là mệnh cách Văn tinh củng mệnh, cử chỉ ưu nhã, có lý trí, chăm chỉ học hành, có tài kinh bang tế thế, có tiếng tăm trong giới học thuật, văn nghệ, mệnh nữ mà có mệnh cách này thì thường đa tình.

        Người sinh giờ Ngọ tháng 1, 5, 7, 9 có mệnh tọa cung Thìn hoặc người sinh giờ Tý tháng 1, 3, 7, 11 có mệnh tọa cung Tuất, sao Văn xương đồng tọa cung Mệnh, sao Tả phù củng chiếu ở Tam phương Tứ chính là mệnh cách Phù củng Văn xương, chủ về có sự nhanh nhạy, có thể làm tướng, hưởng thụ sự tôn sùng.

Mệnh tọa cung Thìn, người sinh giờ Tỵ, giờ Mùi; hoặc mệnh tọa cung Tuất, người sinh giờ Sửu, giờ Hợi, hai sao Địa không và Địa kiếp cùng tọa trên cung Mệnh, có thể giúp sao Cự môn đột phá khỏi sự ước thúc của Thiên la Địa võng. Sau khi bước sang tuổi trung niên, nhờ vào tài ăn nói và khát vọng mãnh liệt, qua lao động vất vả có thể tạo dựng được sự nghiệp lớn.

Mệnh tọa cung Tuất, người sinh giờ vào Sửu các năm Tân Hợi, Tân Mão, Tân Mùi; hoặc người sinh giờ Mùi các năm Tân Tỵ, Tân Dậu, Tân Sửu; hoặc người sinh giờ Dậu các năm Tân Dần, Tân Ngọ, Tân Tuất; hoặc người sinh giờ Thân các năm Tân Thân, Tân Tý, Tân Thìn, nhập miếu sao Kình dương, Hỏa tinh cùng tọa cung Mệnh, là mệnh cách Kình dương nhập miếu, lại thêm Hỏa tinh nhập miếu, mà sao Thái dương ở cung Tài bạch lại là thế vượng, phú quý phát triển, uy quyền lẫy lừng, tiền tài quan tước song toàn, đại phú đại quý.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Đi tìm đức Phật

Từ một câu chuyện có thật Kinh Hiền Ngu ghi chép lại rằng, ở thủ đô Vaisali của đất nước Licchavi có 500 người mù

Scroll to Top