Cự Đồng tại Sửu Mùi

Sao Thiên đồng, Cự môn cùng tọa thủ cung Sửu, Mùi đều là rơi vào thế hãm, lúc này, bản thân sao Thiên đồng không có sức, không thể phát huy được cái “ thuận của mình, lại thêm sự tàn bạo của “ám” tinh Cự môn, bất luận là mệnh nam hay mệnh nữ thì đều vất vả, nhiều phiền nhiễu; nói nhiều, nhưng khả năng ngôn từ biểu đạt không tốt nên dễ khiến người khác hiểu lầm. Trẻ tuổi thì thường vất vả, sau trung niên thì tương đối yên bình, thành công đến không dễ, nhiều trắc trở. 

BỐ CỤC SAO

      Sao Thiên đồng tại 2 cung Sửu, Mùi ở thế không đắc địa thủ mệnh, tất có sao Cự môn ở thế không đắc địa cùng tọa thủ. Sao Cự môn là sao thị phi, chủ về chuyện miệng lưỡi thị phi.

VẬN MỆNH CƠ BẢN

       Sao Thiên đồng, Cự môn cùng tọa thủ cung Sửu, Mùi, cung Quan lộc tất có sao Thiên cơ ở thế bình. Là người có tư tưởng đặc biệt, thường làm việc trong môi trường phức tạp, có thể vì học tập không ngừng mà được trọng dụng, thích hợp với công việc có tính chất phục vụ người khác, theo đuổi việc nghiên cứu học thuật, biên tập báo chí hoặc tạp chí, nghệ thuật gia, không nên tự kinh doanh buôn bán và sáng nghiệp.

       Mệnh tọa cung Mùi, bản cung không có chủ tinh, sao Thái dương nhập miếu tại cung Tài bạch, sao Thiên lương tại cung Mão nhập miếu cùng tọa thủ, sao Thái âm nhập miếu tại cung Quan lộc (cung Hợi) tam hợp hội chiếu; sao Thiên đồng, Cự môn cùng ở cung Thiên di (cung Sửu) đối chiếu, là mệnh cách Minh châu xuất hải. Triều khí hừng hực, sở thích nhiều, có tài hoa, xử sự quang minh lỗi lạc, thăng quan từng bước ổn định, có thể có được thanh danh. Mệnh nữ mà có được thì tài đức song toàn. Nếu cung Mệnh không có Tả, Hữu, Xương, Khúc tinh, lại gặp Dương, Đà, Kỵ tinh xung phá, có hoa mà không có trái, chủ về mơ mộng hư danh.

VẬN MỆNH CỦA CÁC NĂM SINH KHÁC NHAU

        Người sinh năm Giáp: Người sinh năm Mậu, Canh, mệnh tọa cung Sửu, cung Mùi, sao Thiên việt, Thiên khôi lần lượt ở cung Mệnh và cung Thiên di đối chiếu nhau, là mệnh cách Tọa quý hướng quý, văn chương cái thế, thường có quý nhân trợ giúp.

        Người sinh năm Giáp mệnh tọa cung Sửu; người sinh năm Canh mệnh tọa cung Mùi, sao Đà la cùng tọa thủ cung Mệnh, là người có cơ thể béo tốt và mắt dễ bị cận thị.

        Người sinh năm Ất: Cung Quan lộc có sao Thiên cơ hóa lộc. Có thể dựa vào trí tuệ để kiếm tiền, sự nghiệp có tính biến động lớn nhưng phần lớn là biến động tốt. Đặc biệt là mệnh tọa cung Sửu, sao Thiên cơ ở cung Tỵ, sao Thái âm tại cung nhập miếu hóa kỵ, có được sự kỳ diệu trong thay đổi hoàn cảnh mà càng có biểu hiện tốt.

         Người sinh năm Bính: Cung Mệnh có sao Thiên đồng hóa lộc, cung Quan lộc có sao Thiên cơ hóa quyền, nếu không có hung, sát, kỵ tinh xung phá là mệnh cách Quyền lộc tuần phùng, chủ tài lộc và quan lộc đều tốt, cả đời thuận lợi ổn định, đặc biệt là mệnh tọa cung Sửu thì càng cát lợi.

          Người sinh giờ Sửu, Tỵ, Dậu năm Bính mệnh tọa cung Sửu; người sinh giờ Mão, Mùi, Hợi năm Bính, mệnh tọa cung Mùi; cung Mệnh, cung Tài bạch và cung Quan lộc tam hợp hội chiếu các sao Hóa lộc, hóa quyền, hóa khố, là mệnh cách Tam kỳ gia hội, danh dự rõ ràng, phú quý song toàn, tài lộc và quan lộc đều tốt.

          Người sinh năm Đinh: Cung Mệnh có sao Thiên đồng hóa quyền, cung Quan lộc có sao Thiên cơ hóa khoa, cung Mệnh có sao Cự môn hóa kỵ. Do cung Mệnh có sao Thiên đồng, Cự môn đều là rơi vào thế hãm, lần lượt là hóa quyền và hóa kỵ, cả đời nhiều vất vả, tinh thần thiếu yên ổn, thường vì miệng lưỡi mà sinh chuyên thị phi, nhưng cuộc sống hôn nhân lại mỹ mãn.

          Sao Thiên cơ tại cung Tỵ, Hợi và cung Quan lộc hóa khoa, sự nghiệp có biến động, có xu thế phát triển muộn. Sao Thiên cơ tại cung Tỵ hóa khoa có biểu hiện tốt hơn so với ở cung Hợi hóa khoa.

Người sinh năm Quý mệnh tọa cung Sửu; người sinh năm Đinh, Kỷ mệnh tọa cung Mùi, sao Kình dương cùng tọa thủ cung Mệnh, chủ thân thể dễ bị hình thương.

         Người sinh năm Mậu: 2 quý tinh Thiên khôi, Thiên việt lần lượt ở cung Mệnh, cung Thiên di đối chiếu, là mệnh cách Tọa quý hướng quý, văn chương cái thế, thường được quý nhân trợ giúp.

          Người sinh năm Canh: 2 quý tinh Thiên khôi, Thiên việt lần lượt tại cung Mệnh, cung Thiên di đối chiếu, là mệnh cách Tọa quý hướng quý, đồng thời, cung Mệnh có sao Thiên đồng hóa kỵ, chủ về phúc thọ tuy nhiên lại giảm phúc bớt thọ, thân thể và tâm trí thường có mâu thuẫn và điều hòa không tốt, có xu hướng tránh lao động vất vả, lười nhác không thích làm việc.

          Người sinh năm Tân: Cung Mệnh có sao Cự môn hóa lộc. Là người có tài ăn nói, có khả năng thuyết phục, có thể theo đuổi ngành nghề dựa vào tài ăn nói là chính, hoặc ngành nghề hưởng thụ khẩu phúc như ngành giáo viên, bán hàng, người phát thanh, luật sư, phóng viên, người môi giới hoặc ngành ẩm thực để kiếm tiền.

         Người sinh năm Quý: Cung Mệnh có sao Cự môn hóa quyền. Nói năng đúng mực, có thể sinh tồn trong khó khăn và có biểu hiện tốt.

VẬN MỆNH CỦA CÁC GIỜ SINH KHÁC NHAU

           Người sinh tháng 9, 10, 11 có mệnh tọa cung Sửu; người sinh tháng 3, 4, 5 có mệnh tọa cung Mùi, 2 trợ tinh Tả phù, Hữu bật cùng tọa thủ hoặc cùng kẹp cung Mệnh, là mệnh cách Tả Hữu đồng cung (hoặc Tả hữu thủ viên), quan hệ với mọi người tốt, làm việc gì cũng gặp hung hóa cát; nhưng cung Mệnh có sao Thiên đồng, Cự môn đều là rơi vào thế hãm, chủ về viễn cảnh tốt đẹp không được lâu dài.

          Người sinh giờ Mùi, mệnh tọa cung Sửu, sao Thái âm, Văn khúc cùng tọa thủ cung Phu thê, là mệnh cách Thiềm cung chiết quế, nam thì cưới được vợ đẹp, nữ thì sinh được quý tử. Người sinh giờ Thân, Dậu, Tuất, mệnh tọa cung Sửu; người sinh giờ Thìn, Dần, Mão, mệnh tọa cung Mùi, sao Văn xương, Văn khúc cùng tọa thủ hoặc cùng kẹp cung Mệnh, là mệnh cách Văn quế văn hoa (hoặc Xương khúc giáp mệnh), chủ về học thuật, giới văn nghệ có thể hiển quý, nữ mệnh thì tài trí và đa tình.

          Mệnh tọa cung Mùi, bản cung không có chủ tinh, sao Thái dương, Thái âm nhập miếu lần lượt tọa thủ tại cung Tài bạch và cung Quan lộc (sao Thiên lương nhập miếu đồng tọa thủ cung Tài bạch), Sao Thiên đồng, Cự môn lại ở cung Thiên di đốỉ chiếu, là mệnh cách Minh châu xuất hải, có tài hoa, hoặc có thanh danh.

          Người sinh năm Đinh, Kỷ, Canh gặp Dương, Đà, Kỵ tinh xung phá, có hoa mà không kết trái, tham vọng hư danh.

          Những người sinh giờ Dần, Mão, Thìn, tháng 3, 4, 5 năm Đinh, Kỷ, Canh thì 4 cát tinh Tả, Hữu, Xương, Khúc cùng tọa thủ hoặc cùng kẹp cung Mệnh, vẫn có tài hoa, có thể có được thanh danh.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Đi tìm đức Phật

Từ một câu chuyện có thật Kinh Hiền Ngu ghi chép lại rằng, ở thủ đô Vaisali của đất nước Licchavi có 500 người mù

Scroll to Top